7 tháng 3, 2011

Bệnh suy thận - nguy hiểm và tốn kém

Suy thận (ST) là một bệnh khá phổ biến. Phần lớn các bệnh nhân (BN) không có triệu chứng gì rõ ràng cho đến khi thận đã yếu trầm trọng. Vì vậy, trong giai đoạn đầu, BN thường không biết là mình bị yếu thận. Khi chức năng của thận đã suy kiệt đến giai đoạn cuối cùng, thì BN phải chạy thận nhân tạo hoặc thay thận.
Bác sĩ Huỳnh Trần Dương Giới, Phó trưởng Khoa chăm sóc tập trung Bệnh viện Đa khoa tỉnh cho biết, những người bị ST mãn phải chạy thận nhân tạo mỗi tuần 2 lần. Chi phí khoảng 600.000 đồng/lần. Nếu BN có bảo hiểm y tế thì đồng chi trả khoảng 200.000 đồng. Khoản chi phí này không hề nhỏ, khi phải tốn thêm chi phí đi lại, ăn uống nếu BN ở xa. Vì vậy, ngoài sự suy kém về sức khoẻ vì dễ mắc phải các bệnh khác như các bệnh về tim mạch, chẳng hạn tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim... thì những người bệnh ST rất tốn kém về phương diện kinh tế.
 Bệnh suy thận - nguy hiểm và tốn kém
 Khi bị ST mãn tính, BN phải chạy thận nhân tạo rất tốn kém
Hai quả thận là những cơ quan bài tiết quan trọng trong cơ thể.  Qua hệ thống tuần hoàn, những chất dơ trong máu như chất urê được thận lọc ra từ máu thành nước tiểu và thải ra ngoài cơ thể qua niệu quản và bàng quang.  Ngoài tác dụng lọc máu, thận cũng tiết ra những chất hoóc-môn quan trọng trong sự chuyển hoá của xương, sản xuất hồng huyết cầu và nhiều tác dụng khác để giữ một môi trường điều hoà trong cơ thể. Vì vậy, khi bị yếu thận, môi trường ổn định này bị xáo trộn vì những chất hoóc-môn này không được tiết ra nữa. Thêm vào đó, những chất dơ trong máu sẽ ứ đọng lại trong cơ thể vì không được bài tiết ra ngoài. Kết quả là BN sẽ có những triệu chứng ST.
Theo bác sĩ Giới, có rất nhiều nguyên nhân gây ra bệnh ST. Có thể được chia ra làm hai loại: ST cấp tính và ST mãn tính. Sự phân biệt này là hoàn toàn dựa vào thời gian từ lúc BN bắt đầu bị bệnh đến lúc bệnh được chẩn đoán. Nếu thời gian này nhiều hơn 3 tháng thì được gọi là mãn tính hoặc kinh niên.
BN bị ST thường thì không có triệu chứng gì cả cho đến khi chức năng của thận chỉ còn khoảng 10 - 15%. Vì vậy, trong giai đoạn đầu, BN thường không biết mình bị yếu thận. Những triệu chứng mà BN có thể cảm thấy gồm có ói mửa, biếng ăn, mệt mỏi, phù thủng tay chân, cao huyết áp và ngứa ngáy toàn cơ thể. Một số BN sẽ có huyết niệu (tiểu ra máu) hoặc protein niệu (nước tiểu có chất đạm) khi khám nước tiểu. Ngoài ra, BN cũng có thể thấy lượng nước tiểu giảm đi và họ sẽ đi tiểu ít đi... Và triệu chứng của bệnh ST mãn lại kín đáo hơn. BN thường chỉ có triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, không muốn ăn, thiếu máu. Nếu không để ý, BN sẽ không đi khám bệnh và bỏ qua các triệu chứng này.
Vì không có triệu chứng rõ ràng nên cách duy nhất để chẩn đoán bệnh ST là thử nghiệm máu và nước tiểu. Khi thử nghiệm máu, thì mức độ của những chất dơ như urê sẽ cao hơn bình thường. Sau khi đã khám biết BN bị ST, bác sĩ có thể sẽ cho BN chụp siêu âm thận hoặc chụp quang tuyến tuỳ theo nguyên do ST. Cuối cùng là bác sĩ có thể làm “chọc thận” (kidney biopsy) tức sinh thiết để thử nghiệm tế bào thận hầu truy tìm nguyên nhân chính xác.
Để phòng ngừa ST mãn, khi bị nhiễm trùng đường tiểu phải đi khám và điều trị đúng cách; tránh bị sạn thận bằng cách uống nước nhiều. Khi bị sạn thận (cũng có thể gây ra nhiễm trùng đường tiểu) phải điều trị ngay để không gây bế tắc. Uống đủ nước để duy trì lượng nước tiểu, khoảng 1,5 lít/ngày. Không nên ăn quá nhiều đạm động vật, vì ăn nhiều đạm sẽ làm thận phải hoạt động nhiều hơn. Tránh ăn mật cá, mật rắn, tránh để nhiễm trùng, nhiễm độc... Những người làm việc trong môi trường nóng nực, tập thể thao, lao động nặng nên uống nhiều nước hơn. Khi BN có bệnh cao huyết áp, tiểu đường... cần tuân thủ điều trị thuốc và thực hiện chế độ ăn uống theo lời khuyên của bác sĩ. Với những người chỉ còn một quả thận, tuyệt đối tránh các biến chứng do những bệnh khác gây ra. Đồng thời, khám sức khoẻ định kỳ để tầm soát và phát hiện sớm các bệnh lý về thận.

_____________________________________________________


Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com



Đọc tiếp →

6 tháng 3, 2011

SUY THẬN Ở VIỆT NAM - BÁO ĐỘNG ĐỎ

Gần 6 triệu người dân đang bị bệnh suy thận (chiếm 6,73% dân số), trong đó 80.000 người đã chuyển sang giai đoạn cuối, Việt Nam đang chịu gánh nặng rất lớn từ bệnh nhân đè lên xã hội. Thông tin báo động trên được đưa ra tại Hội nghị “Thận nhân tạo và chất lượng trong lọc máu” diễn ra sáng 4-4 tại TPHCM với sự tham dự của gần 30 bệnh viện thuộc 11 tỉnh thành và các chuyên gia y tế về thận-niệu quốc tế.

Rất đông bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối chạy thận nhân tạo tại BV An Sinh - TPHCM.
Bệnh viện Nhân dân 115 TPHCM từ nhiều năm qua đã gánh vác trách nhiệm chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân suy thận, nhất là suy thận mãn giai đoạn cuối.
Với chuyên khoa Thận nội, BV đã triển khai lọc máu (chạy thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc), tuyển chọn ghép và điều trị sau ghép thận cho hàng ngàn bệnh nhân. Và hiện nay, theo BS Tạ Phương Dung, Trưởng khoa, lượng bệnh nhân thường xuyên đang điều trị là trên 900 người.
Số bệnh nhân suy thận được khám và điều trị tại BV Chợ Rẫy TPHCM cũng không ngừng tăng lên trong các năm qua.
Theo số liệu từ khoa Tiết- Niệu của BV, ngoài số bệnh nhân suy thận thể nhẹ điều trị  ngoại trú, hiện trong khoa Chạy thận nhân tạo (CTNT) và các cơ sở khác của BV liên tục phục vụ cho gần hơn 700 bệnh nhân bị suy thận nặng giai đoạn cuối. Chỉ có 46 máy CTNT, BV phải chia ra 4 ca để chạy, mỗi ca từ 3-4 tiếng đồng hồ. Tính ra, mỗi ngày BV Chợ Rẫy TPHCM phải CTNT trung bình hơn 200 bệnh nhân, chưa kể có tới 30-40 bệnh nhân suy thận phải cấp cứu/ngày.
Theo số liệu thống kê của BV Nhân dân 115 TPHCM, tổng số bệnh nhân suy thận đang CTNT của cả nước tính đến tháng 2-2009 đã gần 6.000 người. Trong đó TPHCM có gần 2.000 bệnh nhân (chiếm 32%). Cả TP có 336 máy CTNT phân bố ở 19 BV nhưng gần như không ngừng hoạt động.

Phó Giáo sư Nguyễn Nguyên Khôi, BV Bạch Mai - Hà Nội cho biết qua điều tra nghiên cứu cho thấy Việt Nam đang có gần 80.000 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần lọc máu. Tuy nhiên, mới chỉ 10% trong số đó được đáp ứng điều trị,  90% còn lại đều tử vong.
Một điều đáng quan tâm khác là tiền bảo hiểm y tế chi trả không xuể cho bệnh nhân. Theo BS Tống Thị Song Hương, Vụ trưởng Vụ BHXH - Bộ Y tế, BHYT đã chi trả cho bệnh nhân CTNT 300.000 đồng/lần chạy thận từ nhiều năm qua và mới đây đã tăng lên 400.000 đồng. Hiện chi trả cho bệnh nhân CTNT đã chiếm 10% trên tổng chi của BHYT (năm 2008 là trên 1.000 tỷ đồng) khiến quỹ BHYT luôn… bội chi.

Theo BS Hương, bình quân một bệnh nhân CTNT hoặc lọc màng bụng đã “ngốn” trên 100 triệu đồng/năm của BHYT. Do vậy, trong đề án đổi mới viện phí mà Bộ Y tế sắp ban hành cần xem xét tính đúng tính đủ chi phí chạy thận, lọc thận để cơ sở y tế đủ bù đắp. Hơn nữa cần nghiên cứu chính sách BHYT nói chung và cho bệnh nhân chạy thận, lọc thận nói riêng nhằm đảm bảo quyền lợi của bệnh nhân tham gia BHYT.
Trước thực trạng nói trên, PGS Nguyễn Nguyên Khôi cho rằng đã đến lúc cấp thiết tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong quần chúng để dự phòng, phát hiện sớm bệnh suy thận, nhà nước cần có chiến lược trong điều trị bệnh thận và suy thận như chẩn đoán sớm, điều trị bảo tồn lâu dài, nâng cao chất lượng điều trị với giá thành hợp lý nhất.

Cùng với đó là tăng cường đào tạo đội ngũ y bác sĩ, kỹ thuật viên về bệnh thận, phát triển BHYT toàn dân và BHYT tư nhân để bệnh nhân suy thận được thụ hưởng, đầu tư trang thiết bị máy móc, thành lập các trung tâm chạy thận, lọc thận tới tận BV quận huyện, phòng khám…

__________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

5 tháng 3, 2011

Bệnh suy thận mạn tính có liên quan đến mất thính lực?

Một nghiên cứu mới đây cho thấy người cao tuổi bị bệnh thận mạn tính mức độ vừa dễ bị điếc hơn so với những người cùng tuổi. Các nhà nghiên cứu ở Trường đại học Sydney, Melbourne và Macquarie (Ôxtrâylia) đã chỉ ra rằng người già bị suy thận mạn tính (CKD) thường kém thính lực hơn những người khỏe mạnh ở cùng độ tuổi.
Bệnh suy thận mạn tính có liên quan đến mất thính lực?
Họ tiến hành xem xét bệnh án của khoảng 2.564 bệnh nhân trên 50 tuổi, trong đó có 513 bệnh nhân mắc bệnh CKD và nhận thấy rằng khoảng 54,4% bệnh nhân suy thận mạn tính bị suy giảm thính lực và gần 30% bị mất thính lực nghiêm trọng. Trong đó tỷ lệ này tương ứng là 28,3% và 10% đối với nhóm bệnh nhân không có vấn đề về thận.
Các nhà nghiên cứu có điều chỉnh những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thính lực, bao gồm độ tuổi, giới tính, độ ồn, giáo dục, ăn kiêng, tăng huyết áp, tiền sử đột quỵ và hút thuốc.
Các nhà khoa học Australia đã đưa kết luận sau khi nghiên cứu hơn 2.900 người ³50 tuổi, trong đó có 513 người bị bệnh thận mức độ vừa. Trong số này, 54% bị điếc, trong khi chỉ 28% số người không có bệnh thận bị điếc. Các xét nghiệm cho thấy 30% số bệnh nhân có bệnh thận mạn tính bị điếc nặng, trong khi chỉ 10% số người nhóm còn lại bị điếc nặng.
Tiến sĩ David Harris ở Trường ĐH Y Sydney, ĐH Sydney cho biết: có mối liên quan rõ rệt giữa bệnh thận mạn tính và điếc tai. “Mối liên quan này có thể được giải thích bằng sự tương đồng về cấu trúc và chức năng giữa các mô tai trong và mô thận. Hơn nữa, các độc tố tích tụ trong suy thận có thể làm tổn hại thần kinh, kể cả thần kinh ở tai trong. Một lý do khác giải thích cho mối liên quan này là bệnh thận và điếc tai đều có cùng các yếu tố nguy cơ phổ biến, bao gồm bệnh tiểu đường, huyết áp cao và tuổi già.”
Tiến sĩ Kerry Willis, Phó giám đốc của Quỹ Thận Quốc gia (Australia) cho biết: phát hiện này có thể làm thay đổi cách thức chăm sóc bệnh nhân bị bệnh thận mạn tính của bác sĩ lâm sàng. Các xét nghiệm về thính lực sớm hơn và đeo máy trợ thính giúp “cải thiện chất lượng sống và kiểm soát bệnh tốt hơn, lần lượt, có thể bảo tồn chức năng nghe”.
Mối liên hệ của bệnh suy thận mạn tính với thính lực có thể là do sự tương đồng về chức năng và cấu trúc giữa tế bào tai và thận. Hơn nữa các chất độc xuất hiện do thận hư cũng gây ảnh hưởng xấu đến các dây thần kinh, bao gồm cả dây thần kinh ở khu vực tai. Đặc biệt, suy thận và suy giảm thính lực có một vai trò và nhân tố ảnh hưởng giống nhau như ăn kiêng, tăng huyết áp và tuổi cao.

___________________________________________________


Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

4 tháng 3, 2011

Cảnh giác với những dấu hiệu suy thận sớm

Các bệnh viêm cầu thận cấp, viêm ống thận cấp, viêm cầu thận mạn đều có thể tiến triển đến suy thận. Vì vậy, bệnh nhân bị bệnh thận cần biết rõ những dấu hiệu suy giảm chức năng thận để kịp thời khám và điều trị nhằm cải thiện thời gian và chất lượng cuộc sống.
Suy thận có hai loại suy thận cấp và mạn tính. Suy thận cấp là sự suy giảm chức năng thận diễn ra nhanh chóng trong vài ngày. Suy thận cấp thường do: nhiễm khuẩn, chấn thương, sốc, suy tim, ngộ độc hoặc dùng thuốc quá liều. Việc điều trị bao gồm điều chỉnh lại các chức năng thận, chạy thận nhân tạo.
Suy thận mạn tính diễn ra thời gian dài hơn, gây ra bởi các bệnh mạn tính như tăng huyết áp kéo dài, dị tật bẩm sinh ở thận. Nếu các nguyên nhân được chẩn đoán và điều trị sớm có thể làm giảm tình trạng suy thận, tuy không thể hồi phục lại được chức năng thận đã bị suy yếu. Suy thận dẫn đến tình trạng nhiễm độc cho cơ thể bởi các chất thải trong máu không được loại trừ ra ngoài.
Những dấu hiệu suy thận thường rất mơ hồ
Đa số các triệu chứng suy thận là không rõ rệt, thường gặp là mất cảm giác ngon miệng, choáng váng và nôn. Những triệu chứng này có thể xuất hiện khi mắc các bệnh: cảm cúm, ngộ độc thức ăn, thức ăn không hợp khẩu vị, thiếu chất đạm hay bị nhược cơ. Người cao tuổi, bị tiểu đường, tăng huyết áp hoặc gia đình có người bị bệnh thận là những yếu tố dễ bị suy thận.
Dấu hiệu toàn thân: mệt mỏi (thường xuyên mệt hoặc chỉ mệt khi hoạt động thể lực), khó tập trung, giảm trí nhớ và mất ngủ... có thể do thiếu máu, do chức năng thận suy giảm nên không loại bỏ được các chất độc. Những triệu chứng này cũng xuất hiện vì các nguyên nhân khác, do đó cần thăm khám tỉ mỉ và làm các xét nghiệm.


Suy thận có thể do sự tích tụ các chất độc hại trong cơ thể: Có vị tanh trong miệng hoặc hơi thở hôi, choáng váng, buồn nôn, mất cảm giác ngon miệng, sợ ăn thịt, khó tập trung, bị ngứa.
Suy thận do tích tụ nước trong cơ thể: phù ở mặt, chân hoặc tay, khó thở, hụt hơi (do có nước ở trong phổi). Giữ nước biểu hiện bằng các triệu chứng: phù, tăng huyết áp và khó thở. Phù trắng, mềm, ấn lõm, đôi khi chỉ nặng hai mi mắt hoặc nặng hơn là phù to toàn thân, tăng cân nhanh chóng. Tăng huyết áp cả số tối đa và số tối thiểu. Sự mất cân bằng giữa lượng muối và nước uống, có thể làm nước tích tụ. Vì vậy, ở giai đoạn đầu, bệnh nhân phải ăn nhạt và dùng thuốc lợi tiểu. Nhưng liệu pháp này có thể không kéo dài được lâu và bệnh nhân phải lọc máu. Do đó bệnh nhân suy thận, khi thấy những triệu chứng trên cần phải đến khám để được điều trị phù hợp, kịp thời.
Suy thận có thể do thận bị tổn thương: đi tiểu nhiều hoặc ít hơn bình thường, nước tiểu có bọt hoặc bong bóng, đi tiểu ra máu.
Suy thận có thể do thiếu máu: mệt mỏi, yếu sức, luôn thấy lạnh, khó thở, lú lẫn...
Ngoài ra còn nhiều dấu hiệu xuất hiện ở bệnh nhân suy thận như: ngứa ngoài da, có thể là do hàm lượng phospho và canxi trong máu cao. Nhưng có một số bệnh nhân, mặc dù đã điều chỉnh hàm lượng phospho và canxi máu nhưng triệu chứng ngứa vẫn còn, có lẽ do kích thích thần kinh trong da, do sự tích tụ các độc tố bởi thận không có khả năng lọc. Đối với trường hợp này, phải tiến hành chạy thận nhân tạo để điều trị. Bệnh nhân có thể thấy đau ở chân tay, nếu xác định bệnh nhân bị đau dây thần kinh do thận thì cần phải lọc máu.
Làm gì để phát hiện và điều trị suy thận sớm?
- Bệnh nhân cần đi khám và kiểm tra để xác định chính xác suy thận khi các triệu chứng xuất hiện, vì các dấu hiệu của suy thận không rõ rệt và đặc thù. Nhiều trường hợp, việc điều trị chỉ dùng thuốc hoặc các biện pháp can thiệp khác mà không phải chạy thận nhân tạo. Chỉ định chạy thận nhân tạo phải dựa vào kết quả xét nghiệm và các triệu chứng bệnh. Nếu có kết quả xét nghiệm dương tính bệnh nhân phải được điều trị sớm mới có hiệu quả cao và tránh các biến chứng nặng có thể xảy ra.
- Bệnh suy thận thường không có nhiều dấu hiệu, bệnh nhân nên ghi lại các dấu hiệu của mình, theo dõi và báo cho bác sĩ khám bệnh biết.
- Cần tìm hiểu nhiều thông tin hơn để loại trừ bệnh và nếu có bị bệnh, khi được phát hiện sớm, có thể thực hiện các cách làm chậm tiến trình phát triển bệnh. Một phương pháp để làm chậm tiến trình phát triển bệnh hay ngăn chặn không thể xảy ra suy thận mạn, đặc biệt là khi bệnh mới bị ở giai đoạn đầu là kiểm soát huyết áp. Nên điều trị tích cực để giữ huyết áp ở mức trung bình (120/80mmHg) hoặc thấp hơn nếu bạn bị tiểu đường và/hoặc có protein trong nước tiểu.

___________________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

3 tháng 3, 2011

Vai trò của lọc huyết tương trong điều trị một số bệnh thận

Lọc huyết tương là  một phương pháp mà trong đó người ta  dùng  một loại phương tiện có khả năng lọc huyết tương để làm giảm hoặc loại bỏ một số thành phần trong huyết tương như các tự kháng thể, các phức hợp miễn dịch lưu hành trong máu vv...hay nói một cách khác là dùng máy lọc để làm giảm hoặc loại bỏ khỏi huyết tương những thành phần dư thừa, cũng như các tác nhân gây bệnh cho cơ thể.
alt
Tùy thuộc vào chất hoặc thành phần mà chúng ta cần loại bỏ mà áp dụng các phương pháp lọc huyết tương khác nhau. Lọc huyết tương đã đem lại những kết quả rất khả quan trong điều trị nhiều tình trạng bệnh lý. Trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi sẽ chỉ tập trung đi sâu vào vai  trò của lọc huyết tương trong điều trị  một số bệnh  thận mà nguyên nhân gây bệnh có liên quan đến cơ chế miễn dịch.

Lọc huyết tương (LH-plasmapheresis) hay thay thế huyết tương ( Plasma exchange) là một phương pháp hữu hiệu  đã và đang được  sử dụng một cách rộng rãi trong điều trị một số bệnh lý cầu thận có cơ chế tự  miễn dịch và tự kháng thể.


Tổn thương thận có thể là hậu quả của một số bệnh tự miễn dịch, quá trình gây bệnh chủ yếu là  do các tự kháng thể gây nên, và chính sự kết hợp giữa kháng nguyên - tự kháng thể trong huyết tương đã tạo nên các phức hợp miễn dịch và chính những  phức hợp miễn dịch này lắng đọng ở  thận và cuối cùng gây nên các tổn thương ở thận mà chủ yếu là gây nên các bệnh lý  cầu thận.


Do vậy việc loại bỏ các tự  kháng thể đóng vai trò then chốt trong  điều trị những bệnh  này.


1. Bệnh do kháng thể chống màng đáy cầu thận.


Những kháng thể (KT) kháng collagen týp 4 màng đáy cầu thận và  gây nên những  tổn thương ở màng đáy mao quản cầu thận và  phế nang, hậu quả là gây nên  tình trạng viêm cầu thận và chứng xuất huyết ở phổi ( hội chứng Goodpasture) .


Bệnh viêm cầu thận do kháng thể chống màng đáy cầu thận là một trong những bệnh lý rất thường gặp và là hậu quả trực tiếp của phức hợp KN- KT, mà kháng nguyên (KN) ở đây chính là các thành phần của màng đáy mao quản cầu thận. Viêm cầu thận, cùng với tổn thưong phế nang gây nên bệnh cảnh ho ra máu là một bệnh lý điển hình do KT chống Collagen týp 4 ( IgG) gây nên, tuy nhiên tự KT có thể là IgA trong  một số trường hợp không điển hình.


Do đó lọc huyết tương có giúp loại bỏ các tự KT chống màng đáy mao quản cầu thận và do đó làm giảm nồng độ creatinin trong huyết tương một cách nhanh chóng do đó góp phần  lảm tỷ lệ bệnh nhân bị suy thận giai đoạn cuối. Tuy nhiên hiệu quả của LHT còn phụ thuộc vào một số yếu tố như : mức độ suy thận trứơc khi lọc, ở những bệnh nhân có nồng đọ creatinin huyết thanh >7mg/dl trước lọc thì  khả năng chức năng thận trở về bình thường là tương đối thấp. Tuy nhiên LHT trong các trường hợp này rất có hiệu quả, nó góp phần cải thiện tình trạng  tình trạng xuất huyết phổi , ngay cả ở những bệnh nhân có suy thận nặng. Nếu tiến hành LHT hàng ngày ở những bệnh nhân này thì ngoài tác dụng loại bỏ các tự kháng thể, LHT còn có tác dụng làm giảm các yếu tố trung gian  gây viêm và bổ thể. Quá trình lọc có thể tiến hành liên tục trong 12 ngày và lọc khoảng 4 lít huyết tương /ngày. Cũng có thể tiếp tục tiến hành LHT dài ngày hơn nếu như nồng độ của các tự  KT trong máu vẫn tiếp tục tăng lên.


Cùng với LHT điều trị  phối hợp với các thuốc giảm miễn dịch như steroid, cyclophosphamide hoặc azathioprine là cần thiết nhằm tiếp tục làm giảm nồng độ của các tự  KT và ngăn chặn quá trình viêm và tiến triển của viêm.


2. Bệnh viêm cầu thận tiến triển nhanh và viêm cầu thận có tăng sinh tế bào hình liềm  không do KT chống màng đáy cầu thận


Viêm cầu thận (VCT) tiến triển nhanh  có thể gập ở những  bệnh nhân có KT chống màng đáy cầu thận, KT chống bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính, VCT lupus, VCT trong bệnh cryoglobulin máu..  chi tiết có thể được liệt kê dưới đây:


- VCT do KT chống màng đáy cầu thận: Hội chứng Goodpasture


- VCT do phức hợp miễn dịch : Sau các trường hợp nhiễm liên cầu, viêm nội tâm mạc bán cấp    nhiễm khuẩn, lupus ban đỏ hệ thống, bệnh cầu thận IgA, Cryoglobulin máu, VCT màng lan tỏa

- Bệnh u hạt  Wegner`s
- Viêm đa động mạch
- VCT trong bệnh KT chống bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính

Ở những bệnh nhân này để có hiệu quả rõ rệt nên tiến hành LHT 4 lần/tuần đầu tiên với 4 lít huyết tương được thay thế băng albumin. Một số tác giả cho rằng LHT ít có hiệu quả trong những trường hợp mà nguyên nhân gây viêm cầu thận không do KT kháng màng đáy cầu thận, tuy nhiên  đối với những bệnh nhân có suy thận nặng  và phụ thuộc vào thận nhân tạo thì LHT lại cho những kết quả rõ rệt.


3. Bệnh cầu thận IgA


Viêm cầu thận IgA là một thể điển hình của VCT, tổn thương cầu thận là do quá trình lắng đọng IgA ở gian mạch cầu thận. Bệnh này ban đầu được coi là bệnh VCT lành tính, hay đái máu tái phát lành tính. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng 30% viêm cầu thận IgA tiến triển đến suy thận giai đoạn cuối, 10% có biểu hiện của VCT tiến triển nhanh .


Việc loại bỏ IgA bằng LHT đã cho những kết quả hết sức khả quan trên phương diện phục hồi chức năng thận ở cả giai đoạn cấp cũng như ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh. Viêm cầu thận IgA ở giai đoạn mạn tính thì LHT vẫn có nhưng giá trị nhất định và là phương pháp được lựa chọn hàng đầu đối với thể bệnh VCT tiến triển nhanh. Trong những trường hợp này, liệu phấp ức chế miễn dịch nên được dùng song song với LHT. Trong trường hợp VCT tiến triển nhanh ở trẻ em thì đoi khi  chỉ cần LHT đơn thuần cũng cho kết quả rất khả quan.


Thời gian  và liều lượng lọc nên căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên thông thường thì lọc 3 lần/ 2 tuần đầu, sau đó 1 lần/tuần và kéo dài trong 6 tuần.


4. Viêm cầu thận Lupus


Tổn thương cầu thận trong bệnh Lupus  là rất nặng nề, bởi sự lắng đọng của rất nhiều các KT miễn dịch ở cầu thận, đó là IgG, IgA, IgM...Do vậy nhanh chóng loại bỏ các KT này có một ý nghĩa sống còn trong điệu trị VCT Lupus. Mặc dù còn một số tranh cãi về vai trò của LHT để điều trị VCT Lupus, tuy nhiên lợi ích của LHT trong rất nhiều trường hợp VCT Lupus là rất rõ ràng như trong; VCT Lupus có hội chứng thận hư mà không đáp ứng với Cyclophosphamide, VCT Lupus ở những bệnh nhân đang mang thai không có chỉ định dùng thuốc gây độc tế bào,và trong các trường hợp VCT Lupus có tăng độ nhớt của máu, cryoglobulin máu, xuất huyết phổi và ban xuất huyết giảm tiểu cầu.


LHT cũng còn được chỉ định để  kết hợp với liệu pháp miễn dịch hoặc chuẩn bị cho bệnh nhân trước khi  liệu pháp miễn dịch được bắt đầu. LHT ở những giai đoạn này rất có ý nghĩa vì các tế bào lympho sẽ bị kích thích sau LHT và làm tăng độ nhạy cảm với các thuốc ức chế miễn dịch.
alt
5. Hội chứng kháng thể chống đông Lupus, kháng thể kháng cardiolipin và kháng thể kháng phospholipid

KT kháng cardiolipin và KT chống đông Lupus làm gia tăng tình trạng tắc mạch, gây xảy thai tái diễn ở phụ nữ và một số bệnh lý cầu thận. Khi sinh thiết thận ở những bệnh nhân Lupus ban đỏ người ta đã quan sát thấy 32% các trường hợp có những bằng chứng về tắc mạch. ở bệnh nhân có KT kháng phospholipid dương tính thì 30% số bệnh nhân có tình trạng đông máu trong các vi mạch và lắng đọng fibrin ở các cầu thận. Mặc dù  chống đông là phương pháp điều trị chủ yếu ở nhóm bệnh nhân này, tuy nhiên LHT giúp  loại bỏ phần lớn các KT chống phospholipid do đó làm giảm tình trạng đông máu rải rác ở vi mạch. Mặt khác ở những bệnh nhân mang thai mắc hội chứng chống phospholipid, LHT giúp làm giảm  biến chứng xảy thai hoặc nguy cơ phải bỏ thai.


6. Xơ hóa cầu thận cục bộ dạng ổ và mảnh tái phát sau ghép thận

Ở những bênh nhân suy thận giai đoạn cuối do xơ hóa cầu thận  cục bộ dạng ổ và mảnh thường có protein niệu cao sau ghép thận. Một phần trong số những bệnh nhân này có biểu hiện tăng 1 loại protein trong máu mà dạng protein này có tác dụng gây tăng tính thấm của cầu thận đói với albumin. Vì protein này có trọng lượng phân tử dưới 10.000 dalton, điều đó chứng tỏ loại protein này không phải là  một globulin miễn dịch. Mặt khác khi LHT ở những bệnh nhân này ngay sau ghép thận đã là giảm đáng kể tỷ lệ tái phát viêm cầu thận cục bộ dạng ổ và mảnh cũng như giảm lượng  protein niệu.


7. Lọc huyết tương nhằm loại bỏ kháng thể gây độc tế bào ở những bệnh nhân trước ghép thận

alt
Huyết tương
Một lượng lớn bệnh nhân trước ghép thận có tình trạng tăng KT gây độc tế bào, đây chính là  một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng thải ghép tối cấp. KT phản ứng trong huyết tương là một loại KT  nằm trong nhóm này. Bằng cách dùng protein A để hấp thụ những KT loại này cũng như dùng các thuốc ức chế miễn dịch phối hợp thì tỷ lệ thành công của các ca sau ghép thận đã tăng lên  một cách đáng kể cũng như chức năng thận được duy trì một cách ổn định sau một thời gian tương đối dài. Mặt khác những bệnh nhân được ghép thận có nhóm máu O , nhận thận của người cho có kháng nguyên A2 và B thì LHT trước ghép nhằm mục đích làm giảm nồng độ KT A hoặc B do đó  giảm đáng kể tỷ lệ thải ghép cấp tính.

8. Lọc huyết tương sau ghép thận


Cùng với các thuốc ức chế miễn dịch như Cyclophosphamide, Cellcept, Methylprednisolon truyền tĩnh mạch , LHTđã góp phần đáng kể làm giảm nồng đọ KT kháng HLA do đó chức năng thận sau ghép được cẩi thiện góp phần làm tăng tỷ lệ thành công sau ghép thận . Mặt khác LHT còn có tác dụng làm giảm hàm lượng bổ thể C4d - một loại bổ thể thường tăng lên trong huyết  tương ở những bệnh nhân sau khi ghép, do dó làm cũng làm giảm tỷ lệ thái ghép thể dịch cấp tính.


9. Phòng chống tình trạng tái phát bệnh  nguyên phát ở thận ghép


Rất nhiều bệnh nhân xuất hiện bệnh lý nguyên phát ở thận ghép như một số bệnh  viêm cầu thận cục bộ dạng ổ và mảnh, viêm cầu thận IgA, VCT màng tăng sinh.


LHT đã làm giảm đáng kể tỷ lệ tái phát những bệnh lý nêu trên ở thận ghép.


Hội chứng tăng ure máu- tan máu là một trong những biểu hiện có tần xuất tái phát cao ở  bệnh nhân sau ghép, tỷ lệ này có thể lên dến 40-60%. Tuy nhiên cần phân biệt giữa hội chứng tăng ure máu - tan máu với  một số tình  huống khác như :thải ghép thể mạch cấp tính, nhiễm độc Cycloporine hoặc các thuốc ức chế miễn dịch khác, cũng như các KT chống tế bào lympho gây độc cho thận. Quá trình LHT có thể được tiến hành cho đến  khi chức năng thận trở về bình thường.


10. Bệnh Cryoglobulin máu


Cryoglobulin là những globulin miễn dịch hoặc phức hợp globulin, những loại globulin này có khả năng đông vón  ở nhiệt độ thấp nhưng lại có khả năng  hòa tan ở nhiệt độ cao hơn.


Có 3 thể bệnh Cryoglobulin máu:


- Thể thứ nhất: Cryoglobulin ở đây là các KT đơn dòng hay gặp trong một số bệnh như u tủy, bệnh Waldenstrom`s macroglobulin  máu và một số bệnh có tăng sinh dòng  tế bào lympho.


- Thể thứ 2: Là thể bệnh phối hợp giữa Cryoglobulin với một loại KT đơn dòng, hay gặp ở một số bệnh có rối loạn tăng sinh tế bào dòng lympho, bệnh tự miễn dịch và nhiễm virus.


- Thể thứ 3: Là thể bệnh phối hợp của Cryoglobulin và các KT đa dòng  rất hay gặp trong bệnh viêm gan C.


Tổn thương thận ở bệnh nhân Cryoglobulin máu là do lắng đọng Cryoglobulin và/hoặc các phức hợp miễn dịch ở mao mạch cầu thận, quá trình hoạt hóa bổ thể và viêm mạch. LHT là phương pháp được lựa chọn trong những trường hợp nặng như; thời kỳ hoạt động của bệnh gây nên suy thận tiến triển nhanh  hoặc bệnh lý thần kinh tiến triển.


Ngày nay trong điều trị viêm gan do virus C , Interferon dùng phối hợp với Ribavirin là sự lựa chọn hàng đầu, tuy nhiên vai trò của 2 thuốc này trong cải thiện chức năng thận là chưa thật rõ ràng.Trong một số trường hợp có viêm cầu thận nặng  hoặc bệnh khởi phát với các biểu hiện nặng nề thì LHT cho kết quả rất rõ rệt.


ở những bệnh nhân viêm nội tâm mạch bán cấp nhiễm khuẩn biểu hiện như Cryoglobulin týp 3, hoặc một số bệnh cảnh nhiễm trùng khác gây nên Cryoglobulin  máu thì chỉ định  LHT là biện pháp được lưa chọn đầu tiên trước khi phối hợp với các biện pháp điều trị  khác.


11. Bệnh xơ cứng bì


ở những bênh nhân xơ cứng bì mà có KT chống bào tương của bạch cầu đa nhân trung tính thì LHT đem lại hiệu quả nhanh và rõ ràng, trong những trường hợp này LHT bằng hệ thống lọc đôi (Double-filtration) sẽ làm giảm nhanh các tự KT này, LHT còn có tác dụng ngăn ngừa biến chứng suy thận ngay cả khi bệnh nhân chỉ được dùng với liều rất thấp thuốc ức chế miễn dịch. Mặt khác ở bệnh nhân xơ cứng bì  có hàm lương KT kháng nhân cao thì  khi dùng corticoide uống hoặc tiêm tĩnh mạch phối hợp với LHT (thông thường chỉ cần từ 10-12 lần lọc) các triệu chứng về da và khớp được cải thiện một cách nhanh chóng.
alt
12.Viêm  thận  kẽ cấp tính

LHT thường được dùng phối hợp với Corticoide và Cyclosporine ở những bệnh nhân viêm thận  kẽ  mà ở những bệnh nhân đó có bầng chứng rõ rệt về tổn thương thận do KT chống màng đáy  tế bào ống thận gây nên. Thông thường chỉ cần  lọc 3-4 lít /ngày  trong 5 ngày liên tục và sau đó  2 ngày/lần  trong vòng 1 tuần đã cho kết quả khả quan.


13. Suy thận cấp trong bệnh đa u tủy xương


Do sự gia tăng các globulin miễn dịch  mà chủ yếu là các chuỗi nhẹ trong huyết tương đã  làm tắc nghẽn lòng ống thận bởi các trụ globulin miễn dịch này và hậu quả cuối cùng là tình trạng suy thận cấp.ở những bệnh nhân này LHT có hiệu quả nhanh hơn là dùng hóa trị liệu đơn độc bởi vì LHT làm giảm nhanh nồng độ của các globulin miễn dịch gây độc trong máu, do vậy nếu chúng ta loại trừ được các nguyên nhân gây suy thận cấp khác thường hay gặp trong bệnh đa u tủy xương như mất nước, tăng canxi máu, tăng axít uric máu, viêm thận bể thận...) thì  LHT  phối hợp với các biện pháp hóa trị liệu phù hợp sẽ có tác dụng cải thiện chức năng thận và làm tăng tỷ lệ sống sót ở những bệnh nhân này. Mặt khác tỷ lệ thành công của LHT sẽ cao hơn rất nhiều nếu như phát hiện sớm tình trạng suy giảm chức năng thận  ngay từ khi chưa có biểu hiện thiểu niệu hoặc vô niệu.


Hiện nay khoa Thận - tiết niệu bệnh viện Bạch mai đã và đang áp dụng phương pháp LHT để điều trị một số trường hợp viêm cầu thận Lupus như ;bệnh ở giai đoạn hoạt động tiến triển nặng, hoặc liệu trình truyền liều cao "Pulse therapy" Methylprednisolon phối hợp với liều uống duy trì bằng prednisolon và cyclophosphamid không kết quả, hoặc viêm cầu thận Lupus phối hợp với những biểu hiện thần kinh tâm thần nặng. Phương pháp này đem lại một số kết quả bước đầu rất khả quan.

_________________________________________

Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
 
Đọc tiếp →

2 tháng 3, 2011

Các chứng bệnh dễ gây suy thận

Những bệnh lý ở hệ tiết niệu thường có triệu chứng ban đầu dễ nhận biết nhưng do chủ quan rất nhiều người bệnh không đi khám và điều trị sớm dẫn đến những hậu quả nặng nề. Một trong những bệnh lý đó là viêm thận, bể thận cấp tính. Đây là căn bệnh có nguy cơ dẫn đến suy thận, thận ứ mủ, hoại tử thận... nếu không được chữa trị kịp thời.
 Hình ảnh giải phẫu thận.
 

Bệnh nhân có thể tử vong vì viêm thận cấp tính
Các biểu hiện bệnh của chứng viêm thận, bể thận cấp rất đa dạng, dấu hiệu đầu tiên là các phản ứng của cơ thể trước tình trạng nhiễm khuẩn. Bệnh nhân đột ngột sốt cao, rét run, thể trạng suy sụp, môi khô nứt nẻ, lưỡi bẩn. Nếu sử dụng thuốc hạ sốt thì giảm  đi trong một khoảng thời gian ngắn (một vài giờ) sau đó cơn sốt lại bùng phát trở lại. Kèm theo sốt, bệnh nhân cảm thấy đau ở vùng sườn lưng, có thể đau một bên hoặc cả hai bên, thường là đau âm ỉ nhưng cũng có khi có những cơn đau dữ dội như có dao đâm, cơn đau lan xuống vùng bàng quang, thậm chí lan ra cả bộ phận sinh dục ngoài.
Cùng với tình trạng sốt cao, đau, nước tiểu của người bệnh thường đỏ, đục, có cảm giác nóng rát khi đi tiểu. Ngoài ra một số bệnh nhân còn có biểu hiện chán ăn, ăn không ngon, buồn nôn, nôn, bụng trướng, cơ thể mệt mỏi rã rời. Bệnh thường tiến triển tốt và hồi phục hoàn toàn nếu được điều trị sớm, đúng thuốc sau vài ngày sẽ cắt được cơn sốt, nước tiểu trong trở lại sau 1- 2 tuần. Nhưng nếu điều trị muộn hoặc không đúng thì bệnh dễ tái phát, chuyển thành mạn tính, suy thận, hoại tử núm thận, ứ mủ thận, nhiễm khuẩn huyết, tăng huyết áp... những biến chứng này có thể làm bệnh nhân tử vong.
Chính vì các biểu hiện của viêm thận, bể thận cấp rất đa dạng nên dễ làm nhầm lẫn với những triệu chứng viêm nhiễm khác. Do đó muốn chẩn đoán chính xác, bệnh phải tiến hành các xét nghiệm về công thức máu, hóa sinh máu, nước tiểu, siêu âm bụng, chụp Xquang, hoặc chụp cắt lớp bụng... để có những kết quả chẩn đoán chính xác và đưa ra phác đồ điều trị phù hợp.

Điều trị và phòng bệnh như thế nào?
Vi khuẩn là thủ phạm gây suy thận
         Nguyên nhân gây bệnh là do vi khuẩn, thường là vi khuẩn gram(-). Các vi khuẩn này thường xâm nhập vào đài bể thận theo đường tiết niệu, sinh dục, bắt đầu từ bộ phận sinh dục ngoài, niệu đạo, bàng quang, niệu quản rồi đến đài, bể thận. Đây là hiện tượng nhiễm khuẩn ngược dòng. Tình trạng viêm nhiễm cấp tính này cũng có thể do vi khuẩn theo đường máu, bạch huyết xâm nhập vào thận. Những yếu tố như sỏi thận, sỏi tiết niệu, viêm hoặc u tuyến tiền liệt, giao hợp không đảm bảo vệ sinh, phụ nữ có thai, đặt sonde bàng quang... là những điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây ra tình trạng viêm nhiễm cấp tính.
Đây là bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh là biện pháp quan trọng được sử dụng điều trị, đặc biệt là các kháng sinh có tác dụng tốt đối với vi khuẩn gram(-) như augmentin, sentram. Nếu bệnh nhân có dấu hiệu suy thận càng phải thận trọng sử dụng các thuốc kháng sinh. Những phụ nữ có thai bị bệnh này càng thận trọng vì có nhiều loại thuốc kháng sinh không có lợi cho thai nhi. Điều trị triệu chứng theo từng trường hợp, nếu sốt cao, đau  phải dùng thuốc hạ sốt, thuốc giảm đau, đặc biệt phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh để điều trị triệt để như sỏi thận, sỏi tiết niệu, các bệnh viêm nhiễm ở bàng quang, tuyến tiền liệt, âm đạo...Các nguyên nhân viêm nhiễm có nguyên nhân một phần do vệ sinh thân thể không tốt, đặc biệt viêm nhiễm ở hệ tiết niệu - sinh dục. Thói quen tắm ao hồ, sông suối của nhiều người ở các vùng nông thôn rất dễ nhiễm khuẩn ở đường sinh dục, khi đó vi khuẩn sẽ ngược dòng tiến sâu vào bàng quang, tiết niệu, thận. Do vậy không nên tắm, dầm mình ở những nơi có nguồn nước không vệ sinh. Trong điều kiện bất đắc dĩ như đầm mình vì bão lụt sau đó cần tắm rửa sạch sẽ bằng nước sạch, rửa bộ phận sinh dục bằng nước muối pha loãng. Cần có thói quen vệ sinh trước và sau khi quan hệ tình dục, phụ nữ có thai càng đặc biệt chú ý vệ sinh cơ thể vì khi mang thai, những thay đổi ở môi trường âm đạo rất dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm. Đối với các bệnh ở đường tiết niệu bị viêm nhiễm cần được điều trị triệt để. Khi đã mắc bệnh và trong quá trình điều trị người bệnh cần được chăm sóc tốt về mặt dinh dưỡng, nhằm tăng sức đề kháng cho cơ thể. Hằng ngày nên uống đủ nước, khoảng 1,5lít/ngày.
Tóm lại, viêm thận, bể thận cấp tính là bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng ngừa và điều trị khỏi nếu được phát hiện và xử trí kịp thời. Người bệnh khi có những triệu chứng trên cần đến khám và điều trị ở các chuyên khoa tiết niệu và nghiêm chỉnh thực hiện các chỉ định của thầy thuốc. 

________________________________________________________


Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

1 tháng 3, 2011

Cách điều trị suy thận mạn

Suy thận mạn là tình trạng diễn tiến suy chức năng thận rất chậm. Nguyên nhân gây bệnh thường là do tiểu đường, cao huyết áp hoặc viêm cầu thận cấp. Cần kiểm soát huyết áp, đường huyết và chế độ ăn hạn chế đạm để khống chế bệnh.
Các triệu chứng lâm sàng: ban đầu người bệnh có dấu hiệu mệt mỏi, giảm năng lực, mất ngủ, sau đó là chán ăn, buồn nôn, nôn ói... Để lâu sẽ dẫn đến các triệu chứng tim mạch như viêm màng ngoài tim, suy tim, sung huyết và cao huyết áp. Đồng thời, người bệnh sẽ bị thiếu máu và dễ đông máu, thần kinh mỏi mệt, mất tập trung, mất ngủ, lú lẫn bị hôn mê. Bệnh còn dẫn đến những thay đổi về nội tiết như giảm testosterone, ít tinh trùng, vô sinh, rối loạn cương và đồng thời gây loãng xương, gãy xương bệnh lý.


Nguyên nhân gây suy thận mạn: gồm các bệnh gây tổn thương thận như: cao huyết áp, suy tim, hội chứng tắc nghẽn sau thận kéo dài, dị dạng hệ niệu, các bệnh lý tại thận như viêm vi cầu thận mãn, bệnh lý mạch máu thận và đái tháo đường.
Cách điều trị suy thận mạn:
Nội khoa:
- Cần cải thiện các triệu chứng của suy thận mạn như buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu..., kiểm soát huyết áp, đường huyết, và chế độ ăn hạn chế đạm.
- Cần loại bỏ chất độc thận bằng cách:
Lọc máu ngoài thận: Tất cả bệnh nhân được kết luận là suy thận mạn giai đoạn cuối, với hội chứng Urê huyết cao và độ thanh thải Creatinin<10ml/phút đều phải được chỉ định lọc máu ngoài thận.
Ngoài ra, chỉ định lọc máu ngoài thận còn có thể áp dụng cho những trường hợp cấp cứu như:
+ Tăng potassium máu, điều trị nội khoa không cải thiện.
+ Toan chuyển hóa.
+ Quá tải về thể tích, không đáp ứng với điều trị lợi tiểu.
Hiện nay có 2 phương pháp điều trị lọc máu ngoài thận là thận nhân tạo và thẩm phân phúc mạc. Việc chọn lựa phương pháp thích hợp cần tùy thuộc người bệnh, điều kiện địa lý xa hoặc gần trung tâm thận nhân tạo...
Ghép thận: đây là phương thức điều trị tốt nhất cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối.

________________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →